.: VGP News :. | Giảm khoảng cách số trong giáo dục giữa các vùng miền

0
34


(Chinhphu.vn) – Phát triển kinh tế của Việt Nam trong tương lai phụ thuộc vào việc mỗi trẻ em đều có cơ hội như nhau để học tập và phát triển. Trẻ em dân tộc thiểu số, trẻ em vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn có thể sẽ bị tụt lại phía sau nếu chúng ta không hành động để giảm khoảng cách trong thời đại số, nhất là trong bối cảnh diễn biến phức tạp của dịch COVID-19.

Khoảng cách trong tiếp cận các nền tảng học tập trực tuyến

Năm 2020, dịch COVID-19 diễn biến phức tạp khiến trong một thời gian dài, học sinh tại Việt Nam phải học qua Internet. Trong một thế giới kết nối toàn cầu như hiện nay, Hà Giang cũng như các tỉnh miền núi khác là những nơi tiếp cận Internet còn không đồng đều, do đó khó kết nối với những nền tảng hiện đang hỗ trợ trẻ em trên khắp Việt Nam học tập trực tuyến.

Trẻ em dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng xa cũng như trẻ em thuộc các hộ gia đình nghèo thường không có điều kiện tiếp cận tới các công nghệ như điện thoại di động, máy tính hay Internet để có thể học trực tuyến như em H, 12 tuổi người dân tộc Dao, Hà Giang chia sẻ cùng chúng tôi, “Em không thể tiếp tục học bởi gia đình em ở vùng sâu vùng xa, không có đủ phương tiện để hỗ trợ cho việc học như máy tính hay điện thoại giống như các bạn dưới miền xuôi.”



Ở vùng cao, đời sống người dân còn gặp nhiều khó khăn, việc cho con em học trực tuyến ở nhiều nhà là không thể. Ảnh VGP

Thêm vào đó, tại vùng sâu, vùng xa và nông thôn, trẻ em dân tộc thiểu số có quỹ thời gian dành cho học tập hạn chế hơn do còn phải phụ giúp gia đình việc đồng áng hoặc làm việc nhà. Em T, 13  tuổi ở xã Lũng Chinh, tỉnh Hà Giang chia sẻ “Trong suốt thời gian đại dịch COVID-19 diễn ra, hầu hết thời gian em phải giúp gia đình, chăm các em nhỏ. Em thấy rất mệt và chỉ muốn ngủ. Em không còn thời gian để học nữa.”

Tháng 4 năm 2020, Plan International Việt Nam (tổ chức đầu tư hơn 60% ngân sách cho chương trình thúc đẩy giáo dục cho trẻ em dân tộc thiểu số của 5 tỉnh thành: Hà Giang, Lai Châu, Quảng Bình, Quảng Trị, Kon Tum) cùng một số tổ chức hoạt động trong lĩnh vực phát triển tập trung vào trẻ em, thực hiện một khảo sát nhanh đánh giá ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 đến cuộc sống của trẻ em tại Việt Nam. Đánh giá được thực hiện với 1122 trẻ em đến từ 19 nhóm dân tộc, bao gồm Bru-Vân Kiều, Dao, Tày, H’Mong, Nùng, Thái, Giáy, Sách, Hoa, Lự, Kinh, Khơ Mú, Mường, Chăm, K’Ho, Cao Lan, Hà Nhì và Phù Lá.

Kết quả khảo sát cho thấy sự khác biệt lớn giữa học sinh tại thành phố và học sinh tại vùng sâu, vùng xa trong việc tiếp cận tới các nền tảng học tập trực tuyến, trong thời gian giãn cách xã hội hay khi trường học đóng cửa. Khảo sát cũng cho thấy, trong 415 em có hoàn cảnh đặc biệt (bao gồm trẻ em vùng sâu, vùng xa, trẻ em khuyết tật, trẻ em sống trong các trung tâm bảo trợ xã hội), chỉ 35% được tiếp cận nền tảng học trực tuyến hoặc truyền hình trong khoảng thời gian này. 

Đây là một khoảng cách lớn giữa học sinh miền núi với học sinh miền xuôi trong thời đại 4.0 này. Theo UNICEF, khoảng cách số đồng nghĩa với khoảng cách về học tập – và khoảng cách này sẽ còn rộng hơn khi giáo dục ngày càng đòi hỏi trẻ em phải làm chủ những kỹ năng số và công nghệ. Lỗ hổng lớn về học tập này đồng nghĩa với lỗ hổng lớn về tiềm năng thu nhập của các em trong tương lai.

Không để trẻ em nào bị bỏ lại phía sau trong thời đại số

Đại dịch COVID-19 đem đến nhiều thách thức nhưng cũng mang lại những cơ hội mới. Trong một bài viết mới đây, bà Rana Flowers, Trưởng Đại diện UNICEF tại Việt Nam nhấn mạnh, chúng ta cần có một nền tảng giáo dục được sử dụng trên toàn quốc, một chương trình giảng dạy kỹ năng số và xóa mù công nghệ số từ mẫu giáo đến lớp 12. Bên cạnh đó cần sự hỗ trợ của những công ty công nghệ hàng đầu để đảm bảo trẻ em có thể tiếp cận các thiết bị điện tử và Wifi tại nhà.

Trong điều kiện dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, để hoạt động dạy và học không bị gián đoạn, nhiều địa phương chỉ đạo triển khai việc học trực tuyến qua máy tính hoặc điện thoại thông minh, nhưng các trường ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số thì điều này không dễ thực hiện.

Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Hoàng Su Phì cho biết, năm học 2019-2020, trong thời gian nghỉ phòng, chống dịch COVID-19, Phòng đã ban hành các văn bản chỉ đạo các đơn vị trường học triển khai nhiều biện pháp dạy học để đảm bảo nội dung, chất lượng chương trình giáo dục theo quy định của Bộ GD&ĐT như khuyến khích các đơn vị trường triển khai học trực tuyến; giao bài tập về nhà cho học sinh thông qua công cụ của các trường như zalo, email… và phiếu giao bài tập theo phương pháp truyền thống để giao bài cho học sinh tự ôn tập và tự học tại nhà. Tuy nhiên việc thực hiện các hình thức dạy học trực tuyến, học trên truyền hình cho học sinh tại các đơn vị trường học trên địa bàn huyện không thực hiện được do đại đa số phụ huynh là người dân tộc thiểu số, điều kiện sống còn gặp nhiều khó khăn, không có các phương tiện cho học sinh để thực hiện học trực tuyến tại nhà như máy tính, không có Internet, không có điện thoại thông minh.




Cần phổ biến việc dạy và học trực tuyến, cùng với những tiêu chuẩn nhất định và hướng dẫn chi tiết. Ảnh VGP

Thực tế, để khắc phục những khó khăn về công nghệ, nhiều thầy cô giáo ở Hoàng Su Phì và một số điểm trường ở vùng sâu, vùng xa khác đã phải đi bộ hoặc đi xe máy vượt qua những đoạn đường đèo, thời tiết khắc nghiệt để đến những thôn làng nhận tài liệu và bài tập.

Thậm chí một thầy giáo của huyện Hoàng Su Phì, trước những khó khăn của việc học trực tuyến, đã tự đầu tư tiền bạc và công sức gần nửa năm để nghiên cứu thiết bị có thể trực tiếp nhìn thấy bài học của từng học sinh khi dạy online, từ đó có thể sâu sát hơn bài học của các em.

Chia sẻ về mong muốn tiếp cận công nghệ thông tin của học sinh trường PTDTBT Tiểu học Pố Lồ, cô Hoàng Thị Tuyến chia sẻ: “Thông qua các môn học, học sinh cũng được biết về các cuộc thi trực tuyến, chị cũng mong muốn học sinh được tham gia những cuộc thi đó. Bố mẹ đã thiệt thòi rồi nên mong muốn con cái họ sẽ được phát triển lên. Phụ huynh họ cũng rất là mong chờ.”

Trao đổi với chúng tôi về giải pháp để bảo đảm công bằng cho giáo dục cho trẻ em dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng xa trong thời đại 4.0, bà Sharon Kane, Giám đốc Quốc gia của tổ chức Plan International Việt Nam cho rằng, Việt Nam cần phổ biến việc dạy và học trực tuyến, cùng với những tiêu chuẩn nhất định và hướng dẫn chi tiết. Thúc đẩy một cơ chế bền vững trong việc hỗ trợ trẻ em vùng sâu vùng xa, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn được tiếp cận với kiến thức kỹ thuật số cũng như việc học trực tuyến. Bên cạnh đó, phát triển chương trình về trường học an toàn trước thiên tai, rèn luyện các kỹ năng ứng phó với thảm họa và đại dịch cho học sinh. Hỗ trợ mô hình lớp học tại nhà, lớp học tại cộng đồng cho học sinh  vùng sâu, vùng xa để các em cùng học với giáo viên nếu tiếp tục xảy ra giãn cách xã hội.




Trường học là nơi biến những ước mơ của học sinh vùng cao thành sự thật. Ảnh VGP

Việc phổ biến dạy và học trực tuyến cũng được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phùng Xuân Nhạ đưa ra trong Hội nghị “Chuyển đổi kỹ thuật số các hệ thống giáo dục trong toàn ASEAN” vào giữa tháng 10/2020. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phùng Xuân Nhạ nhấn mạnh học sinh và giáo viên cần được tiếp cận không hạn chế ứng dụng công nghệ thông tin để kết nối, khai thác, tận dụng tri thức của nhân loại.

Trong những năm qua, Việt Nam đã không ngừng nỗ lực thực hiện chuyển đổi số giáo dục. Thực hiện Đề án đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong các hoạt động của ngành giáo dục, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai nhiều nhiệm vụ và đạt được kết quả quan trọng về nhân lực số, nội dung số, quản lý giáo dục trên nền tảng số hoá.

Theo số liệu báo cáo PISA của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) ngày 29/9/2020, việc học trực tuyến phòng chống COVID-19 của Việt Nam có nhiều điểm khả quan so với các quốc gia và vùng lãnh thổ. Cụ thể, Việt Nam có 79,7% học sinh được học trực tuyến. Tỷ lệ này cao hơn mức trung bình chung của các nước OECD (67,5%).

Bộ Giáo dục và Đào tạo đang chuẩn bị ban hành quy chế quản lý dạy học trực tuyến ở bậc phổ thông, tạo hành lang pháp lý để hình thức dạy học trực tuyến được công nhận như một phương thức bổ trợ cho dạy học trực tiếp và được công nhận kết quả.

Thời gian tới, bên cạnh việc giảm khoảng cách số, sẽ còn nhiều việc cần phải làm, trong đó có việc phối hợp xây dựng cơ chế, chính sách, phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng hệ thống giao thông thuận tiện, giảm khoảng cách giàu nghèo để đảm bảo không trẻ em nào bị bỏ lại phía sau.

Trần Tiệp-Nguyễn Toàn

(Tiếp theo và hết)

 



P.V

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here